Theo đài phát thanh Á Châu, Sài Gòn ban sơ là tên gọi khu đất thuộc quận 5 hiện tại.Năm 1778, quân Tây Sơn lấy cớ người Hoa trợ tạo điều kiện cho Nguyễn Ánh nên đã tàn phá cù lao phường (nay là phường Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh giấc Đồng Nai).
I. Nói chung về địa thế Sài Gòn – Chợ lớn
Theo đài phát thanh Á Châu, tới lúc thực dân Pháp xâm lăng nước ta, theo nghị định ngày 3/10/1865 của Thống đốc Nam kỳ, chúng vun đắp nên hai thị thành riêng biệt, phương pháp nhau bởi 1 số ruộng bưng, ao đầm ở vùng Chợ Quán. Thành phố Sài Gòn với diện tích khoảng 3km2, nằm gọn trong địa phận huyện 1 ngày nay; đô thị Chợ to có diện tích ko đầy 1km2, nằm gọn trong thị xã 5 ngày nay[2]. Tương tự, đến đây 2 tiếng “Sài Gòn” lại được đặt tên cho vùng mà trước chậm tiến độ có tên gọi là Bến Nghé, còn vùng đất Sài Gòn cũ được đổi tên thành Chợ lớn. Nhưng không bao lâu sao ngừng thi côngĐây thì, do sự mở mang của hai đô thị nên Sài Gòn và Chợ lớn đã xung quanh nhau thành 1 địa bàn, gọi chung là Sài Gòn – Chợ to.
Kinh rạch xưa và nay ở Sài Gòn – Chợ lớn
Theo đài phát thanh Á Châu, vùng đất Sài Gòn – Chợ lớn là làm mai liên lạc thủy bộ giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Ưu điểm chậm tiến độ đi kèm với điểm bất lợi, vì Đó là nơi “phong hồi thủy tụ” nên địa hình trũng rẻ, khó có thể chọn khiến trọng tâm. Do đó mà năm 1785, sau lúc Nguyễn Huệ kéo quân vào Nam đánh tan 2 vạn quân Xiêm và giao cho Nguyễn Trấn ở lại giữ đất Gia Định, thì ông liền chọn địa điểm cầu Sơn (nay là thị trấn 25 và 26, thị xã Bình Thạnh) để đóng binh. “Cầu Sơn nằm trên gò cao, giữa là đồng bằng, dưới với ruộng cạn”[3], thuận tiện cho thế phòng ngự và hành quân.
quả tình, Sài Gòn – Chợ lớn khi bấy giờ là vùng trũng phải chăng, sông rạch dằng dịt. Ngay tiếng “Đề” (đê) trong địa danh Đề Ngạn cũng cho biết đây là vùng đất trũng, bởi vậy người Hoa phải đắp đê (hiểu là dãy đất cao) ven rạch Tàu Hủ để cất phường chợ. Theo nai lưng Kim Thạch thì khu vực trong khoảng rạch Bến Nghé trở xuống hướng Nam , “địa hình xấp xỉ mặt nước biển, đi từ + 0,5m đến +3m, thường bị triều bao phủ sắp hết”[4]. Chính vì vậy mà theo Trương Vĩnh Ký thì xung quanh gò Cây Mai hàng năm có“tổ chức những cuộc đua thuyền để suy tôn đức Phật”[5]. Về phía Sài Gòn (hiểu là khu vực huyện một hiện nay) với một tuyến phố dù đã được đắp cao để vận động nhưng nước vẫn thấm ướt quanh năm, nên gọi là đường Nước Nhỉ[6], tức thị luôn có nước nhỉ giọt:
trục đường Nước Nhỉ chảy tiu tiu,
người thương khách lại qua hóng mát.
~ Cổ Gia Định phong cảnh vịnh ~
Về phía Chợ lớn, mang con rạch có tên Nước Lên[7], chỉ hiện tượng triều cường dâng lên gây ngập tràn:
Quán Nước Lên chiếc dờn dợn,
Khách bộ hành tắm giặt ngơi nghỉ.
~ Cổ Gia Định phong cảnh vịnh ~
cho nên mà giao thông chủ yếu bằng thuyền, luồn lách theo hệ thống kinh rạch[8] nhằng nhịt. “Sự vận động trên rạch khác nào như sợi chỉ của 1 con thoi tương hỗ trên máy dệt”[9].
Thế nhưng, khác với quân Tây Sơn, chúa Nguyễn Phúc Tần, ngay trong khoảng năm 1679, đã chọn Bến Nghé khiến nơi lập đồn binh vì thấy được thuộc tính là đầu mối liên lạc của địa điểm này. Trong khoảng chậm tiến độ, theo thời kì, trụ sở hành chính của Gia Định như dinh Điều Khiển[10] (1732), thành Bát Quái, tức thành Quy[11] (1790), thành Phụng[12] (1835) rồi phủ Toàn quyền Đông Dương (1869) đều được đặt ở vùng Bến Nghé, tức Sài Gòn. Bên cạnh đó, Bến Nghé chỉ là trung tâm hành chính, còn trọng tâm thương nghiệp thực thụ lôi kéo hồ hết dân cư lại là Chợ lớn.
như vậy, trong suốt hơn ba trăm năm, Sài Gòn và Chợ lớn đồng thời là trung tâm của cả Nam Bộ. Chính điều Đó, cùng sở hữu nền kinh tế tư bản của chế độ thuộc địa khiến cho, hơn ở đâu hết, vùng này đã với những đổi thay lớn lao không ngờ, mà chủ yếu là công cuộc giải quyết địa hình trũng tốt để xây dựng tỉnh thành. Đặc thù, nói diễn ra từ Pháp xâm chiếm thì tốc độ thành phố hóa của Sài Gòn – Chợ to càng thêm khẩn trương. Trong quá trình chậm tiến độ thì vấn đề giao thông được đặt ra sớm nhất vì chậm tiến độ là điều kiện tiên quyết để lớn mạnh đô thị.
Nhìn lại xuyên suốt quá trình lớn mạnh của Sài Gòn – Chợ lớn trong khoảng khu đầm lầy thành phố thị tráng lệ như bây giờ, thật tiện dụng nhận thấy phương thức giao thông của nó chuyển dần trong khoảng đường thủy sang tuyến đường bộ. Bởi thế mà vấn đề lịch sử kinh rạch ở đây trở thành vấn đề lịch sử phát triển chung của cả đô thị.
II. Lịch sử kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ to
Như đã nói, kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ to phổ thông vô thiên lủng, có những con rạch không sở hữu tên hoặc có tên nhưng ít ai biết đến[13]. Do vậy, bài viết này chỉ biên chép lại những thông tin về các kinh rạch được đa dạng người biết tới, mà chính yếu là sự hình thành và diệt vong của chúng.
1. Kinh rạch ở Chợ to
trước hết, phải kể tới kinh rạch ở Chợ lớn, vì vùng này được đào kinh sớm nhất do nằm ở vị trí giao thương với miền Tây.
Năm 1772, đào kinh Ruột Ngựa. Trước ngừng thi côngĐây, từ cửa sông Rạch Cát về tới rạch Lò Gốm chỉ mang con rạch nhỏ nước đọng, thuyền bè đi lại không được. Mùa thu năm 1772, Đốc chiến Nguyễn Cửu Đàm (con trai của Chánh thống Nguyễn Cửu Vân) cho đào thành kinh thẳng tắp như ruột ngựa, nên gọi là kinh Ruột Ngựa (chữ Hán gọi Mã Trường Giang)[14]. Kinh Ruột Ngựa nối kinh Tàu Hủ ăn ra sông Rạch Cát, dài gần 3 km. Từ ngừng thi côngĐây, mang thể rẽ trái đi Cần Đước, Cần Giuộc; rẽ phải đi Chợ Đệm, Bến Lức. Kinh Ruột Ngựa tuy ngắn nhưng giữ vai trò cực kì quan yếu, là kinh đào trước tiên nối kinh Tàu Hủ và vùng Chợ to có vùng đất phía tây.
Từ khóa: dai phat thanh a chau. Có thể tìm hiểu thêm dai phat thanh a chau tại https://www.dkn.tv/
